Nguồn gốc văn minh người Sumer

Người Sumer người tạo thành chính nền văn minh Lưỡng Hà. Nhiều hơn bất kỳ dân tộc nào khác, nền văn minh Lưỡng Hà có được phần lớn là do người Sumer. Phần lớn những gì dùng để mô tả người Babvlon và Assyria lúc này đâ được dân tộc trước họ phát triển. Hệ thống chữ viết có nguồn gốc Sumer, tín ngưỡng, luật pháp và nhiều thông lệ thương mại, khoa học cũng thế. Chỉ trong sự phát triển chiến lược quân sự và hành chinh, phát triển nghệ thuật mới là tài năng được những người xâm chiếm sau này thể hiện cụ thể.

Bản đồ sumer cổ đại
Bản đồ sumer cổ đại

Hệ thống chính trị Surner. Trải qua một phần lớn trong lịch sử, người Sumer sông trong một liên minh lỏng lẻo gồm nhiều thành phô-thành bang, dược hợp nhất chỉ vì mục đích quân sự. Đứng đầu mỗi thành phiấ-thành bang là một pate- si, người kết hợp các chức năng của một thầy tế chính, chỉ huy quân đội, kiêm giám sát hệ thông thủy lợi. Đôi khi, một trong nhiều tham vọng của các nhà cai trị này muôn mở rộng quyền lực của mình đến nhiều thành phố và mang danh hiệu vua. Cho đến thời Dungi, khoảng năm 2000 TCN, tất cả dân tộc Sumer hợp nhất dưới một quyền bính duy nhất trong cùng quốc tịch.
Hình thái kinh tế Surner. Hình thái kinh tế Sumer tương dối dơn giản và chấp nhận hoạt động kinh doanh cá nhân nhiều hơn ở Ai Cập. Đất đai chưa hề là sở hữu độc quyền của nhà vua trên lý thuyết lẫn thực tế. Chính quyền không dộc quyền thương mại và công nghiệp. Mặt khác, đa sô người dân ít có những gì có thể gọi là của riêng mình. Đa phần trong số họ là nông nô, nhưng ngay cả những người tự do cũng chẳng khá giả hơn, vì họ bị buộc phải trả tiền tô cao và phải lao dịch xây dựng các công trình phục vụ công cộng. Nạn mua bán nô lệ, theo đúng nghĩa của từ, không phải là một thể chế quan trọng. Hầu hết những người được gọi là nô lệ thật ra là nông nô, phải cầm cố bản thân mình để trả
nợ. Họ không có vẻ gì là một giai cấp bị làm mất giá trị. Họ vẫn còn sở hữu tài sản, làm công ăn lương khi chủ không cần đến họ, thậm chí cưới được phụ nữ tự do. Chắc chắn da phần trong số họ là người mang quốc tịch Sumer, điều này giúp chúng ta hiểu được cách đôi xử khá phóng khoáng của họ.

Nông nghiệp. Nông nghiệp là sự theo đuổi kinh tế chủ yếu của hầu hết công dân, và người Sumer là những nông dân xuất sắc. Nhờ vào hiếu biết về tưới tièu, họ đã làm cho mùa màng bội thu, vói nhiều loại ngũ cốc và trái cây vùng á nhiệt đới. Vì hầu hết đâ’t đai được chia thành nhiều điền trang lớn thuộc về các nhà cai trị, thầy tế, và sĩ quan quân đội, nên công dán sống ở nống thôn bình thường hoặc là nông nô hoặc tá điền. Thương mại là nguồn tạo ra tài sản quốc gia quan trọng hàng thứ hai. Thương mại phát triển với các nước láng giềng, xoay quanh việc trao đổi kim loại và gỗ xẻ từ phía bắc và phía tây đổi lấy nông sản và hàng hóa sản xuất ở vùng thung lũng hạ lưu. Gần như tất cả những cái đi kèm quen thuộc trong kinh doanh cũng được phát triển, người ta thường xuyên sử dụng biên nhận, hóa đơn, tín dụng thư. Tập quán đòi hỏi mọi giao dịch phải được khẳng định bằng thỏa thuận vàn bản, chữ ký có người chứng kiến. Thương nhân thuê nhân viên bán hàng đi khắp các vùng xa xôi bán hàng ăn hoa hồng. Trong tất cả giao dịch quan trọng, vàng và bạc thỏi được dùng như tiền, đơn vị trao đổi tiêu chuẩn là shekel bạc, giá trị khoảng 50-cent thời hiện đại nhưng khi xưa mua được rất nhiều thứ.

Luật pháp Sumer. Thành tựu nổi bật nhất của người Sumer là hệ thông luật pháp, dây là kết quả của một sự phát triển dần dần từ thông lệ ở địa phương, nhưng sau cùng được Dungi kết hợp thành một bộ luật toàn diện sau giữa thiên niên kỷ thứ ba TCN. Chỉ còn sót lại một ít mảnh ghi bộ luật này nhưng bộ luật Hammurabi nổi tiếng, vua Babylon lúc này được công nhận không gì khác hơn là việc xem lại bộ luật Dungi. Sau cùng, bộ luật này trở thành luật pháp cơ bản của gần như tất cả người Semite – người Babylon, người Assyria, người Chaldean, và người Do Thái.

Sau đây là những đặc điểm chủ yêu trong luật Sumer:

  • Lex talionis, hoặc luật trả miếng “mẩt trả mắt, răng trả răng, chi trả chi”, v.v…
  • Quản lý tư pháp bán-tư nhân. Bản thân nạn nhân hay gia dinh nạn nhân phải đưa người phạm tội ra tòa xử. Tòa xử chủ yếu có chức năng như trọng tài trong cuộc tranh chấp giữa bị cáo và người kiện, chứ không phải là một cơ quan nhà nước nhằm duy trì an ninh, mặc dù “cảnh binh” có mặt ở tòa án dể hỗ trợ việc thi hành án.
  • Sự không bình đẳng trước pháp luật. Bộ luật chia dân chúng thành ba tầng lớp: quý tộc hay con nhà dòng dõi; thị dân hay thường dân; nông nô và nô lệ. Mức tiền phạt phân cấp tùy theo phẩm cấp của nạn nhân, nhưng trong một số trường hợp cũng phân theo phẩm cấp của người phạm lối. Việc giết người hay gây thương tật đối với quý tộc, cũng một tội ấy, nhưng nặng hơn nhiều, nêu gây ra đối vói thị dán hay nô lệ. Mặt khác, khi một quý tộc là người phạm tội thì sẽ bị phạt nặng hơn người có vị thế thấp kém hơn, dối với một cùng tội. Nguồn gốc xuất xứ quy định kỳ lạ này có lẽ được tìm thấy trong những cân nhắc kỷ luật quân đội. Vì các nhà quý tộc đều là sỹ quan quân đội, do dó họ cũng là những người bảo vệ chính cho nhà nước, họ không thể được phép trút sự tức giận của mình hoặc nuông chiều hành vi phóng đãng.
  • Sự phân biệt chưa thích đáng giữa giết chết người vô tình và cố ý. Người nào giết chết người khác vô tình không tránh được hình phạt, vì theo luật đương thời, nhưng phải nộp tiền phạt cho gia đinh nạn nhán, vì trên lý thuyết con cái là tài sản của cha mẹ và vợ là tài sản của chồng.

Add Comment