LÝ THƯỜNG KIỆT VỚI BẢN “TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP” BẤT HỦ

NGÔN ĐỘC LẬP” BẤT HỦ

Ý THƯỜNG KIỆT (1019-1105), VốN NGƯỜI HỌ NGÔ, TÊN húy là Tuấn. Ngô Tuấn quê ở làng An Xá, sau là Cơ Xá bên sông Nhị Hà, thành Thăng Long.Như trong bài văn trước đã trình bày

 

Các bạn tham khảo thêm ở đây

 

Lý Thường Kiệt là ngưòi có chí và ham học, mặc dầu mồ côi cha từ năm 10 tuổi, mẹ mất năm 16 tuổi, ông vẫn C(5 gắng học thành tài.

Tương truyền lúc nhỏ Ngô Tuấn theo học một thầy giác vốn là tôn thất nhà Lý có tài nghệ nhưng không ra làm quan, mở trường dạy học ở phường Bái Ân. Ngày hai buổi, người ta vẫn thấy cậu bé Ngô Tuấn đi học đều đặn từ Yên Hòa đến phía Yên Thái, theo con đường mé nam hồ Mù Sương, suốt từ năm lên 7 đến năm 20 tuổi. Ngô Tuấn học giỏi cả văn lẫn võ, ngày tập bắn cung cưỡi ngựa, đêm miệt mài học binh thư và các sách văn chương, lịch sử…

Năm 23 tuổi, Ngô Tuấn được bổ vào ngạch thị vệ hầu vua Lý Thái Tông. Hơn mười năm sau, ông đã nghiễm nhiên là một vị quan võ tài năng, được quán xuyến mọi việc trong cung nhà Lý Thánh Tông. Ông được nhà vua hết sức yêu quý, ban cho quôc tính (mang họ vua) từ đó mang tên Lý Thường Kiệt.

Khi Lý Nhân Tông lên ngôi (vào năm 1072), lúc đó nhà vua mới có 7 tuổi, Lý Thường Kiệt khoảng ngoài 50 tuổi làm Phụ quốc Thái uý, ông đã hết lòng phò “vua nhỏ” trị nưỏc, trở thành linh hồn và cột trụ của triều Lý đương thòi.

Chính vào thòi điểm này, giặc Tông lăm le xâm lược Đại Việt, Lý Thường Kiệt, nhà chiến lược, nhà chỉ huy quân sự lỗi lạc đã chủ trương tiến công để tự vệ. Một mặt ông đem quân tiêu diệt các căn cứ xâm lược của địch ngay trên đất địch, một mặt ông bô” trí phòng tuyến sông cầu vững chắc để ngăn chặn địch từ xa, nhằm bảo vệ kinh thành Thăng Long và vùng đồng bằng trù phú.

Trong lúc cự địch gay go quyết liệt, Lý Thường Kiệt đã mưu trí thác lòi thánh Tam Giang làm một bài thơ để động viên quân sĩ. Truyền thuyết dân gian kể rằng, đang đêm 30 tròi tối đen như mực, trong đền thánh Tam Giang bên bò Như Nguyệt bỗng vang lên lời thần ngâm thơ sang sảng: Nam quốc sơn hà Nam đê cư,

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Nghĩa là:

Sông núi nước Nam, vua Nam ở Rành rành định phận tại sách trời,

Cớ sao lủ giặc sang xâm lược,

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

Nghe thơ, khí thê quân ta phấn chấn hẳn lên, đánh cho giặc Tống phải giẫm đạp lên nhau mà chạy tan tác. Cuộc kháng chiến chống Tống đã thắng lợi rực rỡ.

Bài thơ là một bản anh hùng ca bất hủ, một bản tuyên ngôn độc lập đanh thép của dân tộc ta.

Lý Thường Kiệt là một anh hùng kiệt xuất của dân tộc. Trải thờ ba triều vua (Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông), ông đã có nhiều cống hiến cả về văn trí và võ công. Ông xứng đáng là một danh nhân ưu tú của đất nước Việt Nam mà tên tuổi, sự nghiệp còn sáng mãi ngàn thu và vang lừng cả cõi Bắc:

Ỏng Lý nước Việt

Noi dấu tiền nhiên

Cầm quân tất thắng

Trị nước yên dân,

Danh lừng cõi Bắc,

Tiếng nức xa gần…

(Bài minh bia đá chùa Linh Xứng thê kỷ XII).

Lý Thường Kiệt qua đời vào tháng 6 năm Ât Dậu- 1105, thọ 86 tuổi. Điều đáng nói là trước khi qua đòi một năm (1104, tức là năm ông đã 85 tuổi), Lý Thường Kiệt vẫn còn là tướng tổng chỉ huy quân đội đã đánh và đánh thắng một trận rất lớn ở phía Nam đất nước.

Add Comment