HỒ XUÂN HƯƠNG – BÀ CHÚA THƠ NỒM

Hố XUÂN HƯƠNG – BÀ CHÚA THƠ NÔM (THEO CÁCH gọi của nhà thơ Xuân Diệu), sinh ở phường Khán Xuân, Thăng Long, vào khoảng nửa cuối thê kỷ XVIII. Cha là một ông đồ Nghệ và mẹ là một người con gái xứ Quan họ, đã hun đúc nên kỳ nữ Xuân Hương cả cái tài hoa của xứ Bắc lẫn cái sâu cay của xứ Nghệ. Nhưng cái chính là bà đã được tắm mình trong cái nôi văn hóa Thăng Long – Kẻ Chợ, trong trào lưu nhân đạo chủ nghĩa của thời đại, và trong tinh thần dân chủ táo bạo của cao trào đấu tranh chống ý thức hệ phong kiến trên nhiều mặt của quần chúng nhân dân, thể hiện qua các thành tựu rực rỡ của văn hóa dân gian.

>>Các bạn tham khảo thêm ở đây

Ngay từ khi còn cắp sách đến trường, Xuân Hương đã tỏ ra có khiếu trào lộng hóm hỉnh. Một hôm Xuân Hương đến cổng trường chẳng may trượt chân ngã bổ chỏng, bị các bạn trai cười ầm lên, Xuân Hương tức khắc chữa thẹn bằng hai câu thơ:

“Giơ tay với thử trời cao thấp,

Xoạc cẳng đo xem đất vắn dài”.

Trải qua nỗi chua xót, đắng cay của cuộc đòi riêng – tình duyên trắc trở, muộn mằn, đến khi lấy chồng thì cả hai lần đều là phận lẽ mọn – Xuân Hương càng thấm thìa và cảm thông sâu sắc số phận bi thảm của người phụ nữ dưối chế độ phong kiến:

Mõ thảm không khua mà củng cốc,

Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om.

Thơ Hồ Xuân Hương trưốc hết là tiếng nói nhân đạo và dân chủ, đòi quyền sống hạnh phúc cho người phụ nữ. Bà tỏ ra rất căm phẫn chế độ đa thê, và cực lực lên án nó như một tệ nạn vô nhân đạo:

Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng,

Chém cha cái kiếp lấy chồng chung.

Năm thì mười họa hay chăng chớ,

Một tháng đôi lần có củng không.

Cô đấm ăn xôi xôi lại hâm,

Cầm bằng làm mướn mướn không công…

Bà cũng hay hướng ngọn bút sắc bén như một sự thách thức vào trật tự phong kiến, vào những cái chưống tai gai mắt trong xã hội, từ vua chúa, quan lại đến các bậc “hiền nhân quân tử”, nhất là đám thầy tu giả hiệu và bọn văn nhân hay chữ dỏm, đều không thoát khỏi tiếng cười hý lộng cay độc của bà.

Đặc biệt đối vối bọn hay chữ dỏm mà lại cứ làm bộ “thơ thẩn”, lắm khi còn đua nhau đề thơ làm bẩn cả di tích văn hóa Thăng Long, thì tiếng cưòi của “chị” Xuân Hương đã thực sự làm cho đối tượng mất mặt, vì đã bị hạ vai vê một cách khinh bỉ, vì bên cạnh tiếng cưòi còn là lòi cảnh báo răn đe nghiêm khắc:

  • Khéo khéo đi đâu lủ ngẩn ngơ,

Lại đây cho chị dạy làm thơ.

  • Ai về nhắn nhủ phường lòi tói,

Muốn sống đem vôi quét trả đền…

Ngoài tài thơ trào lộng, bà còn là một nhà thơ trữ tình vói những vần thơ sâu lắng, thiết tha, chan chứa tình yêu non sông đất nước và tình nhân ái đối vối người phụ nữ bị áp bức. Trong lĩnh vực này, dưòng như Xuân Hương có ý thức muốn tôn vinh, muôn ngợi ca cái đẹp của người phụ nữ, cái đẹp trong trắng, hồn nhiên, như là một sản phẩm bất hủ của tạo vật, để nhằm chống lại những gì xúc phạm đến nó, và chà đạp nó. Bài Đề tranh Tô nữ là thuộc loại những thi phẩm như thế. Như trong bài văn trước đã trình bày

 

Riêng bài Thiếu nữ ngủ ngày có cái gì hết sức tân kỳ đốì vối thòi đại Xuân Hươngr mà sau bà hàng trăm năm cái điều mối lạ ấy cũng vẫn còn giữ nguyên. Giá trị đặc sắc của bài thơ không chỉ ở chỗ tuyệt diệu, tài tình về ý và lòi, mà còn là và chủ yếu là ở chỗ, đem đến cho người ta những cảm xúc thẩm mỹ phong phú về cái đẹp hài hòa mang tính chất giải phẫu nhân thể của nghệ thuật tạo hình: Mùa hè hây hẩy gió nồm đông,

Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng.

Lược trúc biếng cài trên mái tóc,

Yếm đào trễ xuống dưới nương long.

Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm,

Một lạch đào nguyên suối chửa thông.

Thi hào Nguyễn Du cũng đã vẽ bức “Nàng Kiều tắm” tuyệt đẹp trong Truyện Kiều, nhưng đó còn là bức tranh vẽ theo bút pháp tượng trưng, ưốc lệ. Thiếu nữ ngủ ngày của “Bà Chúa thơ Nôm” mới là bức phù điêu tả thực hoàn chỉnh, và ngồn ngộn sức sông.

Mỗi nhà thơ ưu tú đều tiếp nhận ỏ truyền thống dân tộc những gì tâm đắc và phù hợp với cá tính sáng tạo của mình. Hồ Xuân Hương hình như thiên về phía tiếp thu tinh thần “phản phong” quyết liệt trong vốn văn hóa dân gian đương thòi. Trong thơ của bà như có cả tranh Hứng dừa lẫn truyện Tiếu lâm, lẫn những vai hề chèo, như có cả những bức chạm khắc dân gian cùng loại ở các đình làng…

Hồ Xuân Hương là nhà thơ kỳ tài, xuất chúng, là nhà thơ đầy nhiệt huyết và dũng khí của những ngưòi phụ nữ bị áp bức trong xã hội cũ. Hồ Xuân Hương và thơ Xuân Hương mãi mãi là một hiện tượng văn hóa độc đáo, hiếm lạ trong kho tàng văn hóa dân tộc. Từ ngàn xưa tối nay chưa hề có một nhà thơ nào mà tác phẩm lại được dân gian yêu thích, lưu truyền và mô phỏng rộng rãi như thơ Hồ Xuân Hương. Đó là phần thưởng vẻ vang nhất mà cũng là sự đánh giá cao nhất đối với bà.

Add Comment