Đặc điểm tín ngưỡ của người Sumer

Đặc điểm tín ngưỡng Sumer. Luật pháp cũng như phần lớn tín ngưỡng của người sumer minh họa thái độ xã hội và đặc điểm vàn hóa của họ. Họ không thành công trong việc phát triển một tín ngưỡng đáng được ca tụng, nhưng cũng có dược một vị trí quan trọng trong cuộc sống của họ. Lúc đầu, đáy là tín ngưỡng da thần và theo thuyết tính người. Họ tin tưỏng tuyệt dối vào nhiều nam và nữ thần, nhân cách của mồi vị thần dứt khoát phải mang thuộc tính người. Sha- mash, thần mặt trời; Enlíl, thần mưa gió; và Ishtar, nữ thần nữ tính trong tự nhiên, chỉ kể ra một vài. Mặc dù người Sumer có một vị thần tai họa dặc biệt trong nam thần Nergal, nhưng tín ngưỡng của họ thật ra theo thuyết nhất nguyên, nghĩa là họ xem tất cả các vị thần đều có khả năng của cả cái thiện lẫn cái ác. Chẳng hạn, Shamash, trong tư cách thần mặt trời truyền ánh sáng và sự âm áp cho nhân loại, nhưng thần cũng phát ra các tia sáng nóng bỏng làm đất nứt nẻ và làm khô héo nhiều loại cây trước khi chúng có đủ thời gian để ra hoa, kết trái. Thuyết nhị nguyên tín ngưỡng, bao gồm niềm tin vào cắc thần tính thiện ác hoàn toàn rièng biệt, cho đến mãi sau này vẩn chưa xuất hiện trong nền vàn minh Lưỡng Hà.

Di chỉ người sumer
Di chỉ người sumer

Tín ngưỡng cho thê’ giới này, chứ không phải tín ngưỡng cho thế giới bên kia. Tín ngưỡng Sumer là tín ngưỡng chỉ dành riêng cho thế giới hiện tiền, và không hy vọng gì dành cho kiếp sông thp giới bên kia. Thế giới bèn kia chỉ là sự sống tạm thời ở một nơi thê lương, mờ ảo, sau này được gọi là Sheol (âm ty), ơ đây các hồn ma người chết cứ nấn ná một thời gian, có lẽ khoảng một thê hệ, rồi sau dó hiến mất. Không ai mong đợi có được sự hồi sinh trong một thế giới khác và có được kiếp sống vĩnh hằng hoan hỷ như đổ chưộc lại những diều ác đã làm trong kiếp sông này, chiên thắng của thế giới âm ty là chiến thắng tuyệt đối. Theo suy nghĩ này, người Sumer, không dành sự chăm sóc quan tám đặc biệt đối với thi hài người chết. Không có tục ướp xác, và cũng không xây dựng lăng mộ cầu kỳ. Thi hài thường được chôn phía dưới sàn nhà không quan tài và có rất ít đồ dùng được chôn theo dể cho hồn ma sử dụng.
Tín ngưỡng không phảỉ là tinh thần hay đạo đức. Không có thành phần tinh thần hay đạo đức nào có tầm quan trọng nổi bật trong tín ngưỡng của người Sumer. Như chúng ta đă biết, thần thánh không phải là những hữu thế tinh thần mà là sinh vật sống trong lớp người, cũng có hầư hêt các nhược điểm và cảm xúc nồng nàn như con người bình thường. Mục đích tín ngường cũng không phải mục đích tinh thần. Tín ngưỡng này không đưa ra sự chúc phúc nào dưới dạng an ủì, nâng đỡ tinh thần hay hòa hợp cùng Thần thánh. Nêu nói chung tín ngưỡng là có lợi đối vói con người thì tín ngưỡng chỉ có lợi như thê trong hình thức lợi ích vật chất – mùa màng bội thu và sự thịnh vượng phát đạt trong kinh doanh. Tương tự, các giáo điều và hình thức thờ phụng hầu như không có ý nghĩa đạo đức. Tín ngưỡng không quy định hoặc củng cô tiêu chuẩn dạo đức. Nghĩa vụ áp đặt lên cá nhân chủ yếu chỉ là nghĩa vụ theo nghi thức. Mặc dù thánh thần thường giận dữ dôi với con người và trút cơn giận của mình lên con người, nhưng sự giận dữ ấy không phải là do vi phạm các giao ước với thần thánh mà do con người không thể hiện thái độ kính trọng thích đáng dành cho thánh thần và đáp ứng nhu cầu của thần thánh.
Thiên sử thi Sáng thè và Hồng thủy. Tính chất thật trong tín ngưỡng Sumer dược thể hiện rõ trong thiên sử thi Sáng thế và Hồng thủy, tạo ra “khuôn khổ” cho các câư chuyện sau này của người Do Thái trong Kinh Cựu ước. Thiên
sử thi Sáng thế kể về thắng lợi bằng phép màu của nam thần Marđuk trưởc các nam thần đố kỵ, hèn nhát khác, các nam thần đã tạo ra nam thần Marduk, sự tạo thành thế giới từ thể xác của một trong số các kình địch của nam thần vừa bị giết chết, và sau cùng, để nuôi sống các nam thần, việc tạo ra con người từ đất sét và máu rồng. Toàn bộ câu truyện thật thô thiển, kinh tởm, không có gì ý JighJa tinh thần hay đạo đức nào hấp dẫn. Phiên bản Hồng thủy của người Sumer gần như là phiên bản man rợ. Tính đố kỵ ở con người càng tăng, thi các vị thần càng muốn quyết định tiêu diệt toàn bộ giống người bằng cách nhấn chìm con người trong nước. Tuy nhiên, một trong sô” vị thần này, phản bội bằng cách tiết lộ bí mật cho cư dân được mình ưa thích trên trái đất biết, hướng dẫn anh ta cách đóng thuyền để cứu bản thân lẫn đồng loại. Cơn hồng thủy dâng trào sôi sục trong bảy ngày, cho đến khi toàn bộ trái đâ’t bị nước bao phủ. Ngay cả thánh thần cũng “luồn cúi giống như chó bám lên vách”. Sau cùng, sự xáo trộn chấm dứt, nước bắt đầu rút. Người được ưa thích và anh em của anh ta bước ra khỏi thuyền và dâng lễ vật hiến tê đế tạ ơn. Đói vì lâu ngày không ăn, thánh thần Kngửi thây hương vị ngọt ngào, và tập hợp lại trên lề vật hiến tế như ruồi”, và quyết định không bao giờ ngu xuẩn đến mức hủy diệt con người nữa.
Thành tựu tri thức. Trong lĩnh vực tri thức, người Sumer không đạt được thành tựu nào nổi bật. Tuy nhiên, họ tạo ra được một hệ thống chữ viết được trù định sử dụng hàng ngàn năm sau khi quốc gia của họ bị sụp dổ. Đây là chữ viết hình nêm nổi tiếng, gồm các chữ hình nêm được in lên các bán bang đất sét có mũi tên đầu vuông. Mặc dù lúc đầu là một hệ thống chữ tượng hình, nhưng dần dần dược chuyển thành một khối tích hợp gồm các ký hiệu âm tiết và ngữ âm, tống cộng có đến khoảng 350 ký hiệu. Không có bảng chữ cái nào được phát triển từ khôi tích hợp này. Người

Tượng người tạ ơn nam, Sumer. Tượng này làm bằng thạch cao trắng, dùng nhựa đường để phết màu, cho thấy cách xừ lý tóc, râu theo quy uởc, và đôi mắt mõ to, trừng trừng, đẫc điểm thường gặp trong nghệ thuật LưOng Hà. Cũng nên lưu ý ngón cái thật to và chiều dài các ngón tay đẽu bằng nhau.
Sumer không viết gì có thể dược gọi là triết học, nhưng họ có một số khởi dầu mờ nhạt trong khoa học. Họ nghĩ ra phép tính nhân và chia, thậm chí cách khai căn bậc hai và bậc ba. Hệ thống ghi số, trọng lượng do lường theo thập nhị phân, với số 60 là đơn vị phổ biến nhất. Họ nghĩ ra đồng hồ nước và ầm lịch, âm lịch là sự phân chia không chính xác năm thành nhiều tháng dựa trên chu kỳ tuần hoàn của mặt trăng. Đế cho hài hòa với dương lịch, người ta thêm vào một tháng theo từng thời điểm. Thiên văn học không phát triển bằng chiêm tinh
Những món trang sức được tim thấy ở Ur trong Hang động Hầu gái đang đợi Nữ hoảng. Chất liệu sử dụng là vàng, carnelian, và đá da trời, có niên đại từ 3500-2800 năm TCN, đây cũng là đổ trang sức lâu đời nhất thế giới.
học, và y học là một thành phần khó hiểu giữa ma thuật và trị bệnh bằng thảo dược. Cách chữa bệnh của thầy thuốc chủ yếu là bùa trừ tà, vì họ tin chính ma quỷ là nguyên nhân gây bệnh.
Nghệ thuật Sumer. Trong tư cách nghệ sỹ, người Sumer vượt trội trong tác phẩm bằng kim loại, chạm khắc đá quý, và tượng điêu khắc. Họ tạo ra một số tiêu bản đáng chú ý với nghệ thuật theo chủ nghĩa tự nhiên, nhiều loại vũ khí, bát, đồ trang sức và những tượng thể hiện hình người hay thú, cho thây họ có kỹ năng kỹ thuật và tài năng sáng tạo.
Rõ ràng quy ưổc tín ngưỡng vân chưa áp đặt bất cứ ảnh hưởng bắt buộc nào, do đó người nghệ sỹ vẫn còn tự do theo những thôi thúc của riêng mình. Trái lại, kiến trúc kém hơn thấy rõ, có lẽ là do hạn chế từ sự khan hiếm vật liệu xây dựng có chất lượng tốt. Vì trong thung lũng không có đá, nên kiến trúc phải lệ thuộc vào gạch phơi nắng. Kiến trúc đặc trưng của người Sumer, dược người Semite sau này mô phỏng, là ziggurat, tháp được tạo bậc thang đặt trên nền, có đền miếu xung quanh, cấu trúc công trình thật khổng lồ, các đường nét dơn diệu, và ít thể hiện tài nghệ khéo léo trong kiến trúc công trình. Lăng mộ
hoàng gia và tư dinh thể hiện nét độc đáo hơn. Chính trong công trình xây dựng lăng mộ này những phát minh của người Sumer về mái vòm, khung tò vò, và vòm cuốn mới được sử dụng thường xuyên, và đôi khi cúng sử dụng cột.

Add Comment