Công dân, người nhập cư và nô lệ.

Công dân, người nhập cư và nô lệ.
Dân số Athens trong các thế kỷ 5 và 4 TCN chia thành ba nhóm riêng biệt: công dân, người nhập cư và nô lệ. Công dân, dân số khoảng 160.000, chỉ gồm những ai là con của bố mẹ công dân, ngoại trừ một vài người dôi khi được đạo luật đặc biệt cấp quyền công dân. Người nhập cư, có lẽ không vượt quá con số 100.000, là người nước ngoài thường trú, chủ yếu là người

Trùng tu Nội thất đền thờ Parthenon. Tượng trong ảnh là tượng nữ thần Athena bằng vàng, ngà rực rỡ, là nữ thẩn bào vệ thành phố-nhà nuớc. Giống như fiẩu fiẽ’t các tuợng điêu khấc còn lại trong đền thờ Parthenon, tượng này là tác phẩm của Phidias.
Hy Lạp có nguồn gốc ngoài Athens, mặc dù một số là người Phoenicia và người Do Thái. Ngoại trừ việc không có đặc quyền chính trị và nói chung không được quyền sở hữu ruộng đất, thì người nhập cư cũng có cơ hội ngang bằng với công dân. Họ có thế làm một nghề nghiệp bất kỳ theo ý muốn và tham gia mọi hoạt động xã hội và tri thức. Trái với suy nghĩ của nhiều người, nô lệ ở Athens chưa hề chiếm đa số trong dân số. số lượng cao nhất của họ dường như không quá 140.000. Nói chung, họ dược đối xử rất tốt, và thường được thưởng công phục vụ trung thành bằng việc được trả tự do. Họ có thế làm việc ăn lương và sở hữu tài sản, một số đảm nhận các chức vụ dầy trọng trách như quan chức công nhỏ và quan lý ngân hàng.
Mức độ bình đẳng xã hội và kỉnh tế đáng ngạc nhiên. Đời sống Athens tương phản với đời sống trong hầu hết các nền văn minh khác thời đó. Một trong những đặc điểm hàng đầu của nó là mức độ binh đẳng xã hội, kinh tế đáng ngạc nhiên, dành cho mọi cư dân. Mặc dù đa sô đều nghèo nhưng có một
Hermes cùng con Dionysus, cùa Praxiteles, thế kỷ 4 TCN. Nam thẩn Hermes dice mô tả như một thanh niên xinh đẹp, thân hình mảnh mai, phản ánh chù nghĩa nhân vãn trong tôn giảo Hy Lạp. Nét mặt thể hiện thái độ điềm tĩnh, thái độ hài lòng thản nhiên. Nguyên bản trong viện báo tàng Olympia, Hy Lạp.
vài người rất giàu. Mức lương trung bình đều bằng nhau đốì với tất cả các nhóm thợ, lành nghề cũng như mới vào nghề. Gần như mọi người, cho dù là công dân, người nhập cư, hay nô lệ di nữa, đều ăn cùng một loại thức ‘ăn, mặc cùng một loại quần áo, và tham gia cùng một loại hình giải trí. Sự bình đẳng cơ bản này được thực thi một phần bởi hệ thông nghi thức tế lễ, là sự phục vụ thành phố- thành bang của những người giàu có, chủ yếu trong hình thức đóng góp để giúp đờ kịch nghệ, trang bị hải quân, hoặc cung cấp nhu yếu phẩm cho người nghèo.
Sự nghèo khó trong đời sống Athens. Đặc điểm nổi bật thứ hai trong đời sống Athens là sự nghèo khó trong tiện nghi và các mặt hàng xa xỉ. Một phần của điều này là do thu nhập thấp của đại da số quần chúng. Thầy giáo, thợ diêu khắc, thợ nề, thợ mộc, và lao động phổ thông, tất cả đều nhận cùng một
Tượng Discobolus ca ngợi thân hình tiêu biểu con người Hy Lạp ở thời đại vàng.
mức lương tiêu chuẩn là 1 drachma (khoảng 30 cent) mỗi ngày. Một phần có thể là do khí hậu ôn hòa, nên làm cho cuộc sống giản dị. Cho dù nguyên nhân nào đi nữa, nếu so sánh với các tiêu chuẩn hiện đại, thì người Athens sống quá nghèo. Họ không biết gì về những vật dụng thông thường như đồng hồ, xà phòng, báo chí, vải bông, đường, trà hay cà-phê. Giường của họ không có lò xo, nhà của họ không có cống thoát nước, thức ăn của họ chủ yếu là bánh lúa mạch, hành tây và cá, rửa tay bằng rượu pha loãng. Nếu xét về trang phục, họ cũng không khá giả gì. Một mảnh vải hình chữ nhật quấn quanh người, đinh bằng kim gút ở vai, và một dây thừng quân quanh thắt lưng, một mảnh vải lớn hơn phủ quanh người như một lớp áo choàng mặc khi ra phố. Không ai mang bít tất, một vài người cũng có dồ di ở chân là dép lê.
Thải độ thờ ơ đối với việc kiếm sống bằng nghề kinh doanh. Nhưng thiếu tiện nghi và đồ dùng xa xi là một
vân đề không đáng quan tâm dối với công dân Athens. Vì họ hoàn toàn không thể nhận biết rằng những mặt hàng này là những nhu yếu phẩm quan trọng nhất trong cuộc sống. Mục đích của họ là phải sống càng thú vị, càng hài lòng càng tốt, không cần phải lao động quần quật suốt ngày dể có được một chút thoải mái, tiện nghi cho gia đình. Họ cũng không quan tâm đến việc tích lũy của cầi như một nguồn quyền lực hoặc uy tín. Những gì mà tất cả công dân thật sự mong muốn là một trang trại nhỏ hoặc buôn bán nhỏ giúp cho họ có được thu nhập hợp lý và đồng thời giúp họ có nhiều thời gian tiêu khiển trong các hoạt động chính trị, tán gẫu ngoài chợ, bàn luận về các hoạt động tri thức hoặc nghệ thuật nếu như họ có khả năng thưởng thức.
Thái độ đối với cồng việc. Người ta thường cho rằng người Athens quá lười biếng hoặc quá hợm mình đến mức không thể làm việc chăm chỉ để có được sự an toàn và mua sắm hàng xa, xỉ. Nhưng thật ra không phải như thế. Thật ra có một số nghề nghiệp họ không làm vì họ cho đó là việc làm giảm gíá trị hoặc làm hỏng tự do đạo đức. Họ không còng lưng đào bạc, dồng ở mỏ, vì công việc như thế chỉ thích hợp cho nô lệ có trình độ trí tuệ kém nhất. Mặt khác, có nhiều chứng cứ cho thấy đa số cong dán Athens không có thái độ khinh miệt đối với lao động chần tay. Hầu hết trong số họ đều tự mình làm việc trong các nồng trại, hoặc trong các cửa hiệu như những người thợ thủ công dộc lập. Hàng trăm người khác kiếm sống như những người lao động làm thuê do thành phố-thành bang hoặc do người Athens tuyển dụng. Có nhiều chứng cứ cho thấy công dân, người lai và nô lệ làm việc sát cánh bên nhau, tất cả hưởng cùng một mức lương trong việc xây dựng các công trình công cộng, và ít nhất có một trường hợp đốc công là nô lệ”.
11 A. E. Zimmern, The Greek Commonwealth, trang 158.
Hoạt động kinh tế cơ bản. Mặc dù
có sự phát triển thương mại và gia tăng dân sô, tẩ chức kinh tê’ của xã hội Athens vẫn còn tương đối đơn giản. Nông nghiệp và thương mại là những hoạt động quan trọng nhất. Ngay cả trong thời của Pericles, tuyệt đại đa số công dân vẫn còn sống ở nông thôn. Công nghiệp chưa phát triển cao. Sử sách ghi lại một vàì hoạt động sản xuất qui mô lớn, chủ yếu trong ngành sản xuất đcT gốm và khi cụ chiến tranh. Cơ sở sản xuất lớn nhất xưa nay là nhà máy sản xuãt khiên, do một người lai làm chủ, thuê 120 nô lệ. Không có cơ sở nào lớn bằng một nửa cơ sở này. Hoạt động thu hút số lao động dông nhất là các khu mỏ, thường do thành phô-thành bang sớ hữu hoặc cho các nhà thầu nhỏ thuê lại từng phần rồi họ mướn nô lệ làm việc. Khối lượng hàng còng nghiệp dược lưu thông trong các cửa hiệu nhỏ, do thợ thủ công làm chủ, họ sản xuất hàng theo đơn dặt hàng của khách.

Add Comment