CHUYỆN TÌNH BÊN Hồ TÂY

Trời đã xế chiểu, mặt nước hổ tây óng ánh. một

thầy đồ trầm ngâm dạo bước trên con đường đi ra phía chùa Trấn Quốc. Bỗng nhiên có tiếng mòi chào ngay sau lưng:

  • Bác ơi! Chiếu tốt lắm, mòi bác mua cho cháu một đôi.

Thầy đồ quay lại. Người vừa mời chào mua chiếu là một cô gái tuổi chừng mười lăm, mười sáu, xinh xắn, mảnh dẻ. Tay cô ôm một bó chiếu gon, mỉm miệng cười như hoa nở.

 

>>Các bạn tham khảo thêm ở đây

 

 

Thấy cô ta có vẻ thông minh, sắc sảo, chắc cũng vào loại con nhà có học, chứ không phải chỉ buôn bán bình thường, thầy đồ chợt có ý nghĩ muốn trêu cô để xem dự đoán của mình có chính xác không. Như trong bài văn trước đã trình bày

Ong hỏi cô bằng một bài thơ ứng khẩu:

“Quê ở đâu ta bán chiếu gon?

Mặt trời đã xế, sắp về non

Xuân thu rày đã bao nhiêu tá?

Đã có chồng chưa, được mấy con

Nghe xong bài thơ mà thầy đồ vừa hỏi, cô hàng chiếu nhoẻn miệng cười, không cần nghĩ ngợi gì lâu, cô trả lời ngay, cũng bằng một bài thơ nguyên vận:

“Tôi ở Tây Hồ, bán chiếu gon

Mặt trời gác núi mới về non

Xuân thu mới độ trăng tròn bóng

Chồng còn chưa có, có chi con?”.

Thầy đồ giật mình kinh ngạc. Cô gái quả là mẫn tiệp và cũng thật hóm hỉnh. Câu thơ cuối cùng, khi đọc, cô lại ngắt giọng ở chữ thứ tư. Do vậy mà ba tiếng sau cùng nghe như một lời thách mé, giấu nghĩa một cách vừa thật thà lại cũng vừa xược “có chi con” có nghĩa là chưa có chồng thì làm gì có con mà hỏi. Cô đã chuyển thê chủ động một cách tài tình.

Thầy đồ dừng chân ngẫm nghĩ rồi tỏ lời cảm phục cô gái. Sau đó thầy vui chân đi theo cô, vừa đi vừa trò chuyện, men theo con đường quanh Hồ Tây đi đến tận làng Sù (nay thuộc phường Phú Thượng, quận Tây Hồ, Hà Nội). Câu chuyện dọc đường đã cho thầy đồ biết cô gái thật ra quê ở Đông Triều, do hoàn cảnh đã về ở vói mẹ ỏ làng Tây Hồ. Cô cũng đã được học hành, biết chữ Hán, chữ Nôm, đọc thông sách kinh truyện, vẫn thường đến các đền chùa bên Hồ Tây viết thuê cho các pháp sư, chép văn bia, văn tế, câu đối… Thầy đồ hỏi đến những chuyện quanh vùng Thăng Long, chuyện lịch sử cô đều tỏ ra hiểu biết.

Khi nói đến chuyện giặc Minh sang xâm lược, tàn phá nước ta, thầy đồ nhận thấy cô rất kín đáo ấp ủ một tinh thần dân tộc sâu xa. Hỏi chuyện tương lai, cũng thấy cô như có một mơ ước dùng văn chương, dùng lễ giáo để giúp ích cho đòi. Thầv đồ thầm nghĩ, một ngưòi như cô nếu có điều kiện có thể là một Lễ nghi nữ học sĩ không biết chừng.

Từ bữa ấy, giữa thầy đổ và cô gái xinh xắn, mặn mà kia dần dần gắn bó một thân tình sâu sắc. Họ gặp nhau lúc ỏ chùa Trấn Quốc, chùa Đông Long (tức chùa Kim Liên bây giò), lúc ra đến tận đền Chèm, chùa Vẽ. Họ đàm đạo với nhau về chuyện văn chương, chuyện thời thê rồi dần dần đến những lòi tâm sự, rồi cuối cùng là chuyện… trăm nàm. Cho đến một ngày, thầy đồ nhắc khẽ cô gái xin đừng dùng hai tiếng “bác cháu” như khi mới gặp nữa.

Với vẻ e thẹn, cô gái nhận lời. Bởi vì cô đã biết rõ thầy đồ chính là một danh sĩ của nước Nam; một con người nổi tiếng đã từng làm quan Ngự sử triều nhà Hồ. Nhà Hồ thất bại, ông đã trốn tránh, để bây giò bí mật về thành Đông Quan, tìm bạn kết giao, mưu đồ đại sự. Ong chính là nhà thơ Ưc Trai, tên là Nguyễn Trãi. Còn cô gái tên là Nguyễn Thị Lộ.

Môi tình của họ nảy nở từ đó. Đây đúng là môi tình tài tử giai nhân, không câu nệ tuổi tác mà chủ yếu là do chí hướng.

Sau này, Nguyễn Thị Lộ đã được Nguyễn Trãi đưa vào hàng ngũ nghĩa quân tham gia cứu nước, đã cùng chồng và các bạn chồng là Phạm Văn xảo, Trần Nguyên Hãn dự lễ cầu mộng tại đền ông Thánh Chèm thê cùng diệt quân xâm lược nhà Minh. Đến khi kháng chiến thành công, triều đại nhà Lê mở nước, Nguyễn Thị Lộ đã trỏ thành Lễ nghi học sĩ như Nguyễn Trãi từng mong ước khi xưa.

Add Comment