Bà chúa xứ thần đa văn hóa

  1. Đến Nam Bộ, nhấc là vùng tây Nam Bộ, đầu đâu chúng ta cũng bắt gặp những ngôi Miếu thò Bả. Theo thống kê tử năm 2002, ỏ Tiền Giang có 233 miếu cùa cộng đồng thò các vị thần thì trong đó có 180 miếu thò Bà \ ớ Bén Tre, cỏ 72 miếu của cộng đồng thờ Bà, trong đó riêng của huyện Ba Tri là 24 miếu, Mổ Cày cú 13 miếuJ, á Bình Dương có 47 miếu thò 3, dấy là chưa kể các Trang thờ Bà trong phần 1ÓÌ1 các gia đình. Ngoài ra, trong các khuôn viên đình, chùa, đèn, Bà cũng được thờ hay phối thò cùng vói các vị nam thần hay nữ thần khác, như Bà Ngũ Hành, Bà Thúy Long, Thiên Hậu, Bà Đen, thậm chi cả thần thổ địa nđa. Hai nơi thò Bà Chúa Xứ vượt ra ngoài phạm vi thôn ấp, gia đình, được coi là trung tâm thờ Bà Chúa

Xứ của toàn Nam Bộ, hàng năm thu hút hàng chục vạn người đến hành hương, đó là Miếu Bà Núi Sam (An Giang) và Miếu Bà Gò Tháp (Đồng Tháp). Điều này nói nên tính phổ biến và vai trò cúa Bà Chúa Xứ trong đời sống tâm linh của người dân Nam Bộ nhu thế nào.

>Khóa luyện thi Violympic toán lớp 8

Vói danh thần giản dị nhất và cũng là phổ cập nhát : Bà Chúa xư, với ý nghĩa Bà là chú xứ sỏ, chủ đất đaì, Bà mẹ (Thánh Mẫu), người tạo dựng, che chờ cho mọi sinh linh, một quan niệm vừa mang tính vũ trụ luận, vừa mang tính nhân sinh, mà ta sẽ còn bắt gặp ỏ nhiều vùng đắt, nhiều dãn tộc d nước ta cũng nhu các nước láng giềng.

>>Xem các tin tức giáo dục

Ngoài danh thần mang tính dân dã kể trên, Bà còn được tôn danh với các tên khác, Ngung Man Nưong, Chúa xư Nưong Nương, Chúa Xứ Thánh Mảu, Chúa xư Núi Sam. Đặc biệt, khác với Thiên Ya Na Bà Chúa Ngọc ỏ miền trung và nam Trung Bộ hay Bà Đen ỏ Linh Son (núi Bà Đen ở Tây Ninh), Bà Chúa Xứ chưa một lần được tưđc phong của triều đình, mà dây chỉ là sự thờ phụng và tôn danh của dân gian. Có lẽ, việc thò nú thần, thò Bà dã là cái gì đó trái ngược với tư tưỏng Nho giáo, với lại khống hiểu sao, hiện tượng thờ Bà Chúa xư ỏ Nam Bộ lại chưa một lần gẩn vói vương triều Nguyễn, đặc biệt là Nguyễn Ánh, mà sự gắn kết này lại diễn ra vđi các vị thần khác, như Cá Ông, Rái Cá, TU Vị Thánh nương và cả Bà Đen nửa

  1. Hiện tại, có nhiều truyền thuyết hiu truyền về gốc tích của Bà, mà những truyền thuyết này chủ yếu liên quan đến cốt tượng Bà ỏ Núi Sam (Châu Đốc, An Giang).

Truyền thuyết thứ nhất kể rằng trên núi Sam, ngày xua có một bệ tưọng hình vuông bằng đá sa thạch. Vào nhủng năm đầu thế kỷ XIX, khi giặc Xiêm thưòng sang dây quấy nhiễu. Khi chủng lên núi Sam, gặp tượng Bà, chúng cạy tượng khiêng xuống núi, nhưng chỉ khiêng được một đoạn đường thi tượng bổng nặng trịch, không di chuyển được, chúng bèn vứt tượng gìứa rừng. Sau dó, một hôm dân làng lên núi thấy tượng Bà, bèn hè nhau khiêng tuợng về lập miếu thờ. Kỳ lạ thay, cũng như trước kia, tượng nậng trĩu không

thể di chuyển, mặc dù trai tráng lực lưỡng trong làng đều góp súc. Lúc đó, một phụ nứ bỗng thượng đồng, tự xưng là Bà Chứa Xú và phán rằng, muốn khiêng tượng Bà phải có 40 cô gái đồng trình tắm rửa sạch sẽ thì mới có thể đem tượng bà xuống núỉ. Dân làng làm theo lới chỉ dẫn của Bà đồng, 40 cỏ gái đồng trinh khênh tượng Bà xuống đến chân núi Sam, thi tượng bà lại trỏ nên nặng trịch, không di chuyển tiếp được nửa. Dân làng hiểu rằng, Bà muốn an ngự nai này, bèn lập đền thờ.

Truyền thuyết thư hai kể rằng vào khoảng cách đây gần 200 năm, có một cố gái trong làng Vĩnh Tế thượng dồng, tự xưng là bà Chúa Xứ về núi Sam cứu dân độ thể, hiện nay cốt tưọng Bà đang ỏ trên núi, dãn làng phải đem về thò phụng. Dân làng huy dộng 40 chàng trai lực lượng lên khiêng tượng, nhưng không thể nào khiêng nối. Lúc đó, cỗ gái lại thượng đồng, cho dân làng biết chỉ cần 9 cô gái đồng trinh là khiêng đưọc. Y lời, 9 cô gái đă khiêng được cốt tượng tù trên đỉnh núi Sam xuống đcn chân núi thì dây khiêng tượng bị đứt, bức tượng trớ nên nặng trịch, không suy suyễn. Dân làng hiểu ý Bà muốn ngự ỏ đây, nên lập miếu thờ Bà.

Truyền thuyết thư ba kể rằng, thời Thoại Ngọc Hầu làm trấn thù Châu Đốc, đeo ấn bảo hộ của Cao Miên, vợ ông ó nhà thường cầu nguyện trời Phật cho ông bình an trả về, nếu được như lòi sẽ lập chùa thờ Phật để báo ân đức. Dẹp xong giặc, Thoại Ngọc Hầu trỏ về, nghe vợ kể lại, ổng cảm động về lòng thành của vợ, ông đă cho lính sang tây Trấn Thành chỏ cốt Phật về lập chùa để thờ, đặt tên là chùa Tây An. Chùa xây xong, ông lo ngại kẻ xấu đồn ông lập chùa thò Phật của giặc, về tói kình đô sẽ bị trị tội. Bỏi thế òng đưa pho tuọng ra ngoài chùa, lập miếu thò để tránh phiền phức.

Truyền thuyết thư tư kể về một thiếu phụ ỏ Cao Miên đi tìm chồng, đến chân núi, mệt mỏi, ngồi nghỉ đã hóa đá ỏ chân núi này. Sau đó, một lần linh hồn của người phụ nữ này nhập vào cót đồng, nói về quá khúí, tương lai, thường xuyên giúp người hiền, kẻ tốt, trủng phạt kẻ xấu. Dân làng bèn lập miếu thờ, gọi là Bà Chúa Xứ. Trong truyền thuyết này, chúng ta thấy có hai điều khác biệt vói các truyền thuyết nêu trên, đó cô gái ngưòi Cao Miên là tiền thân của Bà Chúa xư và sự xuất hiện người đàn bà đi tìm chồng hóa đá, một môtíp quen thuộc “đá vọng phu”.

Dù ià truyền thuyết thế nào, nhưng linh tượng Bà ỏ Núi Sam trỏ nên rất linh thiêng, câu đổi sau đây đâ khẳng định niềm tin đó:

“Càu tát ứng, thí tát linh, mộng trung chỉ thị Xiêm khà kính, Thanh khâ mộ, ý ngoại nan lưàng”

Dịch nghĩa :

“Xin thì được, barì cho thi linh thiêng, báo trong giấc mộng Người Xiêm sợ hãi, người Hoa kinh mộ, ý tư khôn ỉuờng”

Truy nguyên xa hơn nủa về sự tich núi Sam và sự hiện diện tủa cốt tượng đá trên đính núi. Truyện truyền rằng, xa xưa, Núi Sam là hòn núi nổi trên mặt biển, có nhiều con Sam đến trú ngụ ncn người ta gọi là núi Sam (?). Một lần, Hoàng tử Ân Độ cùng đoàn tuỳ tùng và tăng lữ Bàlamôn di truyền đạo, đến phương nam, vùng đất của nứ chúa Liu Yi (Liễu Diệp), hoàng tứ dừng thuyền ở đây, sau đó kết duyên cùng nứ chúa và lập nèn vương quốc Phù Nam. Họ thấy hòn Núi Sam nhô trên mặt biển mênh mông, bèn đem bức tượng thần Shiva cúa dạo Bàlamôn đặt trên đỉnh núi này.

Như vậy, với nhủng truyền thuyết mang đầy tính huyền thoại nêu trên đã gần như lý giải nguồn gốc và sự biến đổi của di tích Núi Sam và cốt tượng Bà Chúa xư. Nãm 1941, khi khai quật di chỉ khảo cổ ôc Eo, nhà khảo cổ học người Pháp Malleret đã đến Núi Sam đế nghiên cứu pho tượng này, ồng đã nhận ra đây là tượng Shivalỉnga, một vị thần trong Bàlamôn giáo đã du nhập vào Đông Dương tử nhũng thế kỷ dầu cồng nguyên. Tượng này được dự đoán có nicn đại vào thế kỷ VI. Như mọi ngưòi dều rõ, đây là tượng nam thần, tuy nhiên, khi ngưòi Việt đến đây, với tâm thiic tôn thờ nứ thần tù quê cha đất tổ, nên tạo dáng lại bức tưọng này thành niĩ thần. Người dân ỏ đây còn nhớ, ông Phạm Văn Tiên là người trong ban quy tế miếu đã đề xướng việc mòi thợ từ Chợ Lón (Sài Gòn) về tô lại tượng cho có dáng vẻ nứ thần, nhát là hàng năm ngưòỉ ta dâng cứng Bà mũ áo choàng ra ngoài cốt tượng như ngày nay ta thấy Bà ngự trên chính điện ‘. Hai bẽn tượng Bà còn có tượng Linga bằng đá, phủ vải dỏ, gọi là tượng Cậu, còn bên phải là tượng cô, hai hình tượng Cô / Cậu luồn ỏ bên cạnh Bà Chúa Xứ. Ngưòi ta hiện còn thấy bệ tượng trên đỉnh núi, củng bằng đá sa thạch, một loại dá không có ở Núi Sam, chiều ngang 1,60 m, bề dày 0,3 TĨ1, nếu đặt tưọng Bà lên trên thi vừa khít, chứng tỏ vốn dây là bệ của bức tượng đã tương truyền. Như vậy, trải qua khoảng hai ngàn năm nay, bức tượng Shiva của đạo Baglamôn đã được đổi tên tuổi, giới tính, diện mạo và chủ nhàn. Đây là hiện tượng khống phải duy nhất vói Bà Chúa xư, mà hiện tượng này đã từng xảy ra khi người Việt vào miền trung Trung Bộ, với tâm thúc tổn thỏ nữ thần sẵn có ỏ miền Bắc, cũng đã làm thay đổi tính chất, hình dạng cốt tượng thò Pô Inư Nưgar ỏ Tháp Bà Nha Trang của người Chăm thành Thiên Ya Na Thánh Mâu của người Việt.

  1. Vậy Bà Chúa xư là Ai ? Đó là câu hỏi mà các nhà nghiên cứu ùm cách giải đáp. về phương diện di tích và cốt tượng, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra, Núi Sam vốn là di tích tôn giáo thò thần Shiva của Bàlamôn giáo có từ thòi văn hóa ôc Eo cúa quốc gia Phù Nam cổ dại, niên đại khoảng từ thế kỷ thứ IV đến thế kỷ VIK Có thể củng vói thòi gian, bức tượng đã bị đổ, cũng có thể ai dó phá hoại (có truyền thuyết nói tượng bị giặc Xiêm phá định mang đl), khiến người ta thấy phần tượng nằm trong rùng, con phần bệ tượng vần cỏn nguyên, như các truyền thuyết đã mô tá. Khi người Việt từ miènTrung vào khai phá vung này, khoáng thế kỷ XVl-XVII, đã chuyển tượng tủ trên núi xuống và lập miéu thò.

Xét về danh xưng, tính chát và sự xác tín mà người Việt gán cho Bà Chúa Xứ, ta thấy á đây ít nhắt có bốn lóp vãn hóa, mà cốt lõi của nó chính là nữ thần Pô Inư Nưgar của người Chăm, mà như chúng tôi đã có lần phân tích vị nứ thần Chăm này là sự kết hợp giiỉa nủ thần Chăm bản địa và nứ thần Uma, vọ của Shiva. Bà là vị thần cao nhất của vương quốc Chămpa, được tôn xưng là Mẹ Xứ Sỏ (Pô Inư Nưgar). Theo thần thoại Chăm, Thần sinh ra tủ mây và bọt biển, Bà có 97 chồng, trong đó nổi tiếng nhất là Pô Amư – Thần

Cha. Thần sinh ra 38 cô con gái, sinh ra lúa gạo, dạy dân cách làm ruộng nương

Khi người Việt Nam tiến vào trung và nam Trung Bộ, vói tâm thức thò Mẫu vốn có ỏ miền Bắc, đã Việt hóa nủ thần xư Sổ Pô Inư Nưgar của người Chăm thành Thiên Ya Na (Mẹ Trời) được thà phụng khắp miền Trung, từ Huế trỏ vào đến Nam Bộ. Trong “Việt điện u linh” của Lý Tế Xuyên, có nhắc đến một vị nứ thần Chăm đả phủ hộ vua Lý Thánh Tông đi bình Chiên Thành, nên khi trỏ về vua đã phong tưóc hiệu “Hậu thổ phu nhđn” và rước Ngài về thò ổ Thãng Long [1]. Đến thời nhà Nguyễn, bia của Phan Thanh Giản khắc nãm 1856, dựng ớ Tháp Bà Nha Trang dã ghi lại sự tích Thiên Ya Na và được triều Nguyễn ban tặng vói tưóc hiệu Thiên Ya Na Diễn Phi, Chúa Ngọc Thành Phi, Hồng nhân Phổ tế linh ứng thượng đắng thắn. Tên Bà Chúa Ngọc có lẽ là từ tên núi Ngọc Trản (chén ngọc) ớ Huế, tức điện Hòn Chén ngày nay, thò Thicn Ya Na là thần chủ. Bà cũng mang một cái tên dân gian khác là Bà Chúa Tiên, có lẽ là sự ảnh hưởng danh thần Thánh Mẩu Liễu Hạnh từ ngoài Bắc, vốn gốc là một thiên tiên trên thiên đinh.

Add Comment